Khoa học - Công nghệ Khoa học - Công nghệ

Nghiên cứu nâng cao tốc độ sinh trưởng và sức sinh sản cá rô phi vằn (oreochromis niloticus) chọn giống trong điều kiện nước lợ mặn

Cá rô phi vằn (oreochromis niloticus) có khả năng thích nghi rộng rãi với môi trường nước ngọt, nước lợ, chúng được nuôi phổ biến trong cả môi trường nước ngọt, nước lợ. Ở Việt Nam cá rô phi được nuôi chủ yếu trong các ao, đầm nước ngọt với loài cá rô phi vằn là loài có khả năng chịu mặn kém so với các loài rô phi có giá trị kinh tế khác: rô phi đỏ, rô phi đen, rô phi xanh.

 

Nước ta có diện tích tiềm năng cho nuôi thủy sản nước lợ rất lớn, theo thống kê tổng diện tích nuôi nước lợ ở cả nước ước tính 626,9 nghìn ha. Việc phát triển giống cá rô phi nuôi nước lợ sẽ góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi hạn chế dịch bệnh bằng nuôi luân canh, nuôi ghép với các đối tượng nước lợ khác góp phần khai thác hiệu quả diện tích tiềm năng vốn có tại các vùng ven biển. 

Đề tài "Nghiên cứu nâng cao tốc độ sinh trưởng và sức sinh sản cá rô phi vằn (oreochromis niloticus) chọn giống trong điều kiện nước lợ mặn" do ThS. Lê Minh Toán chủ nhiệm,  Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 cùng phối hợp nghiên cứu nhằm mục đích chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng dòng cá rô phi vằn bằng vật liệu ban đầu là đàn cá chọn giống thế hệ 2 tạo ra từ nghiên cứu trước, đồng thời tìm ra giải pháp phù hợp để nâng cao khả năng sinh sản của cá trong điều kiện nước lợ góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã chọn được giống nâng cao tốc độ sinh trưởng: đã chọn tạo 312 con cá chọn giống thế hệ 3 thuộc 46 gia đình, 285 cá chọn giống thế hệ 4 thuộc 47 gia đình và 4294 con cá chọn giống thế hệ 5. Tốc độ sinh trưởng tăng thêm thế hệ 3 là 13,4%, thế hệ 4 là 14,3% và 5,5% ở thế hệ 5. Hệ số di truyền ước tính của đàn cá chọn giống 3,4 và 5 lần lượt đạt 0,2; 0,58; 0,58.

Đã đánh giá hiệu quả chọn giống thế hệ 3, 4 và 5: Hệ số di truyền thực tế của cá chọn giống thế hệ 2, 3 và 4 lần lượt 0,42; 0,38 và 0,35. Tốc độ sinh trưởng tăng thêm ở cá chọn giống thế hệ 2, 3 và 4 tương ứng là 10,9% ; 10,5% và 5,1%. 

Tỷ lệ đẻ, sức sinh sản của cá ở độ mặn 9-10‰ khá cao, có thể tiến hành sinh sản nhân tạo cá rô phi vằn chọn giống trong điều kiện nước lợ ở độ mặn kể trên. Nghiên cứu đã tiến hành sinh sản cá rô phi vằn ở độ mặn 9-10‰ để sản xuất vật liệu chọn giống.

Kết quả nghiên cứu chỉ thị phân tử liên quan đến sinh trưởng: Xác định được hai allele đặc trưng cho chỉ thị microsatellite có kích thước 217bp và allele có kích thước 248bp với tần số xuất hiện trung bình tương ứng là 17,2% và 20,8%, trên tổng số allele xuất hiện của locus là 11 allele xuất hiện. Kết quả phân tích locus Prl-1 trên cả hai thế hệ 3 và 4 đều cho thấy nhóm cá có trọng lượng nhỏ đều xuất hiện số lượng allele đa hình cao hơn nhóm cá có trọng lượng lớn hơn. 

Trong nghiên cứu này, dùng 3 chỉ thị microsatellite UNH995, GM 39 và UNH925 có thể sử dụng trong việc xác định mối quan hệ huyết thống của cá rô phi. 

NASATI


Tin liên quan
Bản tin Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Số 36.2019)    26/09/2019
Công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Khoa học và Công nghệ Tiền Giang tháng 9 năm 2019    25/09/2019
Công tác cải cách hành chính Quý III năm 2019 của Sở Khoa học và Công nghệ    03/09/2019
Đánh giá trình độ công nghệ doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, đề xuất giải pháp và chính sách đổi mới công nghệ    12/08/2019
Xây dựng khung năng lực cho công chức lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện thuộc tỉnh Tiền Giang    12/08/2019
Kế hoạch tổ chức tiếp xúc, đối thoại với cá nhân, tổ chức về thủ tục hành chính, giải quyết thủ tục hành chính    01/07/2019
Hội thảo khoa học “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Tiền Giang năm 2019”    14/06/2019
Tìm hướng phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam    14/06/2019
Phát động cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp CiC 2019    14/06/2019
Máy móc, thiết bị đã qua sử dụng không quá 10 năm được phép nhập khẩu    14/06/2019

Văn bản mới Văn bản mới

Không tìm thấy văn bản!